|
Dự án “Chương trình Khí sinh học cho Ngành Chăn nuôi Việt Nam 2007 - 2011” do Cục Chăn nuôi, thuộc Bộ NN & PTNT và Tổ chức hợp tác phát triển Hà Lan (SNV) thực hiện. Mục tiêu tổng thể của Dự án là góp phần phát triển nông thôn thông qua việc sử dụng công nghệ khí sinh học, xử lý chất thải chăn nuôi, cung cấp năng lượng sạch và rẻ tiền cho bà con nông dân, góp phần bảo vệ sức khoả cộng động, tạo thêm công ăn việc làm ở nông thôn và giảm thiểu sử dụng nguyên liệu hoá thạch, giảm hiện tượng phá rừng và giảm phát thải khí nhà kính.
Dự án được chia làm 3 giai đoạn: - Giai đoạn I (2003 -2006): triển khai trên 12 tỉnh và thành phố. - Giai đoạn bắc cầu (2006): chuẩn bị cho giai đoạn II; - Giai đoạn II (2007 – 2011): triển khai dự án trên toàn quốc.
Dự án khí sinh học góp phần thực hiện chiến lược quốc gia về Bảo vệ môi trường của chính phủ trong giai đoạn 2010 đến 2020 với định hướng chính là “Hạn chế gây ô nhiễm, cải tạo các khu vực đã xuống cấp và cải thiện chất lượng môi trường đảm bảo phát triển bền vững của đất nước và đảm bảo mọi người dân đều có quyền được sống trong môi trường an toàn về không khí, đất và nước theo tiêu chuẩn đã ban hành của Chính phủ”. Dự án cũng tập trung vào một số điểm chính trong chiến lược giảm nghèo và phát triển toàn diện (CPRGS) và phù hợp với mục tiêu phát triển của Việt nam như hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực tư nhân, tập trung giảm nghèo các dân tộc thiểu số, tiếp cận tối đa các nguồn tài chính, tiếp cận tối đa thông tin và tri thức, tăng bình đằng giới.
Dự án cũng góp phần thực hiện văn kiện dự án “Kế hoạch hành động Năng lượng tái tạo” của Bộ Công nghiệp thông qua việc phát triển khí sinh học như một nguồn năng lượng hiệu quả trong sinh hoạt cung cấp cho khu vực nông thôn và miền núi. Dự án cũng phù hợp với chính sách phát triển nông thôn 2006-2015 của chính phủ. khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình phát triển kinh tế trang trại, mở rộng chăn nuôi ở nhiều loại hình và quy mô, trong đó công nghệ khí sinh học có thể giúp quản lý phân chuồng, xử lý chất thải đồng thời sản xuất ra nguồn năng lượng tái tạo từ quá trình xử lý chất thải. Ngoài ra, bã thải khí sinh học khi sử dụng đúng cách sẽ là loại “phân hữu cơ” sạch và giàu dinh dưỡng giúp nâng cao năng suất, chất lượng rau, quả và cải tạo đất, kiểm soát sâu bệnh. Dự án gián tiếp góp phần xoá đói giảm nghèo, giảm các cho phí lao động nội trợ và tạo việc làm hữu ích cho lao động nông thôn, như thợ xây dựng, bảo hành, lắp đặt công trình, chăn nuôi và làm vườn.
Theo tính toán, dự án cung cấp nguồn năng lượng sạch tương đương 2 800 TJ/năm. Nguồn năng lượng này có thể thay thế 245.000 tấn phế thải nông nghiệp dùng trong đun nấu, 326.000 tấn củi, 36 000 tấn than tổ; 6.593 tấn dầu hoả,39.405 MWh và 4.677 tấn khí hoá lỏng. Theo thời giá tháng 11/2007, tiền nhiên liệu tiết kiệm được cho việc đun nấu và thắp sáng của 140.000 công trình khí sinh học là 591,6 tỷ đồng/năm.
Cho đến cuối năm 2007, dự án đã hỗ trợ xây dựng trên 37.000 công trình khí sinh học, đào tạo hơn 300 kỹ thuật viên tỉnh và huyện, 600 đội thợ xây khí sinh học và tổ chức hàng ngàn hội thảo tuyên truyền và tập huấn người sử dụng khí sinh học.
Dự án đã được trao giải nhất năng lượng toàn cầu năm 2006 tại Brussel, Bỉ. Đây là giải thưởng danh giá trao cho các dự án được ghi nhận là có đóng góp to lớn trong việc giảm thiểu hiện tượng nóng lên của trái đất.
|